Bài soạn "Tìm hiểu yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận" số 4

A. HƯỚNG DẪN TÌM HIỂU BÀI

I. Yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận

Văn nghị luận rất cần yếu tố biểu cảm. Yếu tố biểu cảm giúp cho văn nghị luận có hiệu quả thuyết phục cao hơn, vì nó có tác động mạnh mẽ tới tình cảm của người đọc (người nghe).

Để bài văn nghị luận có sức biểu cảm cao, người làm văn phải thực sự có cảm xúc trước những vấn đề mình trình bày. Văn nghị luận chỉ có thể tác động đến tình cảm của người đọc bằng chính những rung cảm thực sự và không được phá vỡ mạch lạc nghị luận của bài văn.

Người viết phải có năng lực sử dụng từ ngữ, câu chữ, hình ảnh để có thê thê hiện sinh động trạng thái tình cảm, cảm xúc của mình. Có như vậy, bài văn nghị luận mới có sức thuyết phục cao, tác động mạnh mẽ đến tình cảm của ngưòi đọc.


II. Đọc – hiểu

Câu 1. Đọc văn bản và trả lòi câu hỏi.

a) Những từ ngữ biểu lộ tình cảm mãnh liệt của tác giả là: muốn hoà bình, phải nhân nhượng, càng lấn tới, quyết tâm cướp nước ta, thà hi sinh, nhât định không chịu, phải hi sinh đến giọt máu cuối cùng, thắng lợi nhất định về dân tộc ta.

Những câu cảm thán trong văn bản là:

Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào!
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Việc sử dụng từ ngữ và đặt câu có tính chất bỉểu cảm trong văn bản “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ” của Hồ Chí Minh giông với việc sử dụng từ ngữ trong văn bản “Hịch tướng sĩ ” của Trần Quốc Tuấn.

b) Tuy nhiên, hai văn bản trên vẫn được coi là những văn bản nghị luận, không phải là văn bản biểu cảm vì cả hai được viết ra không nhằm bộc lộ tình cảm, cảm xúc mà nhằm mục đích tác động tới lí trí của người đọc, nhằm xác lập ở người đọc tư tưởng, tình cầm nào đó. Yếu tố biểu cảm được dùng trong hai văn bản này chỉ có tác dụng tăng thêm sức thuyết phục cho những ý kiến nêu ra.

c) Theo dõi bảng đối chiếu, có thể thấy những câu ở cột (2) hay hơn những câu ở cột (1) vì những câu ở cột (2) có những từ ngữ bộc lộ tình cảm, thái độ của người viết, vì thế, giàu chất văn, giàu cảm xúc hơn.


Câu 2. Thông qua việc tìm hiểu các văn bản “Hịch tướng sĩ” và “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ”, ta thấy:

Để phát huy hết tác dụng của yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận, ngưòi viết cần phải thật sự có cảm xúc trước những điều mình đề cập và phải biết diễn tả cảm xúc đó bằng những từ ngữ, những câu văn có sức truyền cảm.

Tuy nhiên, nếu chỉ có cảm xúc không thôi là chưa đủ, bởi lẽ, đây là văn bản nghị luận, nên yếu tố quan trọng nhất là lí lẽ. Ngựòi viết không chỉ cần suy nghĩ về việc xây dựng luận điểm và lập luận mà cần có sự xúc cảm, rung cảm.

Không phải bài văn nghị luận nào càng dùng nhiều từ ngữ biểu cảm, càng đặt nhiều câu cảm thán thì mới có giá trị biểu cảm cao, vì:

Muốn có giá trị biểu cảm thì yếu tố biểu cảm cần phải dùng đúng lúc, đúng chỗ.
Biểu cảm chỉ có giá trị khi đó là những rung cảm, những cảm xúc thật sự chứ không phải là những cảm xúc giả tạo.

B. HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

Câu 1. Bài tập này nêu ba yêu cầu:

Chỉ ra các yếu tố biểu cảm trong phần I – Chiến tranh và người bản xứ (ở văn bản Thuế máu).
Tác giả đã sử dụng những biện pháp gì để biểu cảm.
Tác dụng biểu cảm.
Các yếu tố biểu cảm trong phần I – Chiến tranh và “người bản xứ’ (ở văn bản Thuế máu) được thể hiện bằng hệ thống những từ ngữ mang tính mỉa mai, châm biếm, có sự đôi lập nhau:

Những tên da đen bẩn thỉu, những tên “An-nam-mít ” >< những đứa “con yêu ”, những người “bạn hiền ” “chiến sĩ bảo vệ công lí và tự do
Cuộc chiến tranh vui tươi, vinh dự đột ngột >< đột ngột xa lìa vợ con, phơi thây trên các chiến trường, bỏ xác lại những miền hoang vu thơ mộng, anh dũng đưa thân cho người ta tàn sát
Trò biêu diễn khoa học về phóng ngư lôi >< bảo vệ tổ quốc của các loai thuỷ quái.
Lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế, lấy xương mình chạm trên những chiếc gậy.
Khạc ra từng miếng phổi.
Tác dụng của những yếu tố biểu cảm: giúp người đọc thấy rõ bản chất thâm độc, âm mưu quỷ quyệt của thực dân Pháp trong việc sử dụng người dân thuộc địa như những bia đỡ đạn, những vật thay thế cho chúng trong những cuộc chiến tranh phi nghĩa. Chính những từ ngữ biểu cảm đó tự nó đã thể hiện rõ giọng điệu mỉa mai, đả kích hết sức sâu cay của tác giả.


Câu 2. Bài tập này nêu hai yêu cầu:

Những cảm xúc gì đã được biểu hiện qua đoạn văn?
Tác giả đã làm thế nào để những đoạn văn đó không chỉ có sức thuyết phục lí trí mà còn gợi cảm?
Những cảm xúc được thể hiện trong đoạn văn:

Nỗi buồn, “nỗi khổ tâm” của một nhà giáo tâm huyết trước tình trạng học tủ, học vẹt của học sinh.
Những trăn trở của tác giả trưóc thực tế đáng buồn diễn ra trong nền giáo dục nưóc ta.
Đoạn trích không chỉ có sức thuyết phục lí trí mà còn gợi cảm vì:

Đề cập tới một vấn đề có tính chất thòi sự tồn tại trong nền giáo dục nước ta trước đây.
Đoạn văn tràn đầy tâm huyết, nỗi trăn trở của một ngưòi hết lòng vì cái “nghiệp” dạy học, dạy ngưòi.
Đoạn văn được viết dưới dạng câu hỏi tu từ, mang tính chất bộc lộ và thể hiện nỗi đau của tác giả một cách thầm kín.


Câu 3. Bài tập này yêu cầu các em viết đoạn văn nghị luận để trình bày luận điểm: Chúng ta không nên học vẹt và học tủ.

Dựa vào các ý đã được lập ở bài trước và có bổ sung để viết thành một đoạn văn nghị luận. Yêu cầu, các lí lẽ đưa ra phải chặt chẽ và có sức thuyết phục.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Công Ty cổ Phần Toplist
Địa chỉ: Tầng 3-4, Tòa nhà Việt Tower, số 01 Phố Thái Hà, Phường Trung Liệt, Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội
Điện thoại: 0369132468 - Mã số thuế: 0108747679
Giấy phép mạng xã hội số 370/GP-BTTTT do Bộ Thông tin Truyền thông cấp ngày 09/09/2019
Chịu trách nhiệm quản lý nội dung: Nguyễn Duy Ngân
Chính sách bảo mật / Điều khoản sử dụng | Privacy Policy