Top 9 đoạn văn khoảng 7 đến 9 câu trình bày cảm nhận của em về nhan đề hoặc một hình ảnh đặc sắc trong bài thơ Thiên Trường vãn vọng
Bài viết dưới đây Toplist đã tổng hợp các đoạn văn khoảng 7 đến 9 câu trình bày cảm nhận của em về nhan đề hoặc một hình ảnh đặc sắc trong bài thơ Thiên Trường ... xem thêm...vãn vọng , các bạn cùng tham khảo để rèn luyện cách viết cho mình nhé!
-
Bài mẫu 1
Thiên trường vãn vọng của Trần Nhân Tông đã để lại trong em ấn tượng sâu đậm bởi bức tranh làng quê lúc chiều tà vừa mơ hồ, tĩnh lặng vừa chan chứa sức sống. Ngay từ những câu thơ đầu, cảnh vật hiện lên trong làn sương khói bảng lảng, nhòe dần dưới ánh hoàng hôn, tạo nên một không gian nửa thực nửa mộng đầy chất thơ. Hai chữ “man mác” không chỉ gợi sắc chiều mà còn gợi một nỗi niềm bâng khuâng, êm dịu trong tâm hồn thi nhân khi trở về với quê hương sau bao ngày xa cách. Giữa khung cảnh tưởng như đang chìm vào tĩnh lặng, tiếng sáo trong trẻo của chú bé mục đồng cưỡi trâu bất chợt vang lên, khiến bức tranh thiên nhiên trở nên có hồn và gần gũi hơn. Ở phía xa, hình ảnh “từng đôi” cò trắng chao liệng xuống cánh đồng lại tô điểm cho không gian một vẻ đẹp bình dị, thanh nhã và đậm chất làng quê Việt Nam. Sự hòa quyện giữa ánh chiều, làn sương, tiếng sáo, cánh cò cùng nhịp sống con người đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên hài hòa, yên bình nhưng không hề tĩnh lặng, bởi bên trong vẫn căng tràn hơi thở của cuộc sống. Chỉ bằng vài nét chấm phá tinh tế và nghệ thuật “tả ít gợi nhiều”, Trần Nhân Tông đã khắc họa thành công vẻ đẹp nên thơ của làng quê, đồng thời gửi vào đó một tình yêu quê hương nhẹ nhàng mà sâu lắng.

Ảnh minh hoạ (Nguồn internet)
-
Bài mẫu 2
Mục đồng địch lí ngưu quy tận
Bạch lộ song song phi hạ điền
Âm thanh tiếng sáo làm cho bức tranh trở nên đầy sức sống. Chiều về , ngoài đồng, những con trâu theo tiếng sáo của trẻ con mà về, khung cảnh thật yên bình, đẹp đẽ. Màu trắng của từng đôi cò liệng xuống đồng cũng làm không gian bớt phần quạnh hiu. Bức tranh được tác giả cảm nhận bằng nhiều giác quan: thị giác – sắc trắng tinh khôi của những cánh cò; thính giác – âm thanh tiếng sáo du dương, trầm bổng của những đứa trẻ đi chăn trâu. Nếu như ở hai dòng thơ đầu, cảnh vật tịch mịch, tĩnh lặng không xuất hiện bất cứ chuyển động nào thì đến hai câu thơ cuối khung cảnh trở nên sinh động nhờ xuất hiện âm thanh và hoạt động của sự vật. Hình ảnh “cò trắng từng đôi liệng xuống đồng” làm cho không gian được mở ra, trở nên thoáng đãng, cao rộng, trong sạch, yên ả. Qua đó còn cho thấy sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên, đem lại cảm giác thân quen, gần gũi.
-
Bài mẫu 3
Trong Thiên Trường vãn vọng của Trần Nhân Tông, em đặc biệt ấn tượng với hai câu thơ: “Mục đồng địch lý ngưu quy tận/ Bạch lộ song song phi hạ điền”. Câu thơ đầu mở ra hình ảnh chú bé mục đồng ngồi thổi sáo, thong thả đưa đàn trâu trở về sau một ngày dài, khiến bức tranh thiên nhiên vốn yên ả càng trở nên gần gũi và có sức sống. Hình ảnh mục đồng chăn trâu, thổi sáo vốn rất quen thuộc ở làng quê Việt Nam, qua đó gợi lên một không gian tuổi thơ trong trẻo, bình dị và những kí ức thân thương của nhà thơ về quê hương. Sang câu thơ tiếp theo, từng đôi cò trắng nhẹ nhàng bay xuống cánh đồng, tạo nên một nét chấm phá thanh thoát giữa không gian chiều muộn. Hình ảnh đôi cò trở về sau một ngày kiếm ăn khiến em liên tưởng đến sự sum họp, bởi khi ngày tàn, vạn vật đều tìm về nơi thân thuộc để nghỉ ngơi. Đặc biệt, sự xuất hiện hài hòa của con người, con vật và thiên nhiên đã làm nên một bức tranh làng quê bình yên, trong đó mọi sự vật đều cùng hòa chung một nhịp sống nhẹ nhàng. Qua hai hình ảnh giản dị mà giàu sức gợi ấy, em càng cảm nhận rõ tình yêu quê hương sâu nặng và tâm hồn tinh tế của Trần Nhân Tông trước vẻ đẹp thanh bình của cuộc sống.
-
Bài mẫu 4
“Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
Bóng chiều man mác có dường không”.
Thôn xóm, nhà tranh mái rạ nối nhau, sum vầy phía trước, phía sau, bốn bề san sát, khói phủ nhạt nhòa, mờ tỏ, “bán vô bán hữu” nửa như có, nửa như không. Khói tỏa từ đâu ra thế? Phải chăng, đó là những làn sương chiều lãng đãng hòa quyện với những vầng khói thổi cơm ngay từ những mái nhà lan tỏa thành một màn sương – khói trắng mờ, êm dịu bay nhẹ nhàng thanh thản khiến người ngắm cảnh cảm thấy chỗ tỏ, chỗ mờ, lúc có, lúc không. Cảnh thoáng, nhẹ, khiến tâm hồn con người cũng như lâng lâng. Hay chính lòng người đang lâng lâng, mơ mộng nên nhìn thấy làng xóm, khói sương êm ả, thanh bình như thế?
-
Bài mẫu 5
Trong văn học trung đại bên cạnh đề tài thể hiện tình yêu đất nước, tự hào về truyền thống anh hùng của dân tộc thì còn có những bài thơ thể hiện tình yêu thiên nhiên, yêu cảnh vật. Tình cảm đó được thể hiện rõ nét trong hai câu đầu bài thơ Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra của Trần Nhân Tông.
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên
Bán vô bán hữu tịch dương biên
Cảnh vật hiện ra không rõ nét, nửa hư nửa thực, mờ ảo. Đó là cảnh chiều muộn cảnh vật nhạt nhòa trong sương, thể hiện vẻ đẹp mơ màng, yên tĩnh nơi thôn dã. Cảnh đó một phần là thực một phần do cảm nhận riêng của tác giả. Khung cảnh vừa như thực lại vừa như cõi mộng “bán vô bán hữu” – nửa như có nửa như không. Thời gian buổi chiều gợi nên nỗi buồn man mác, không gian làng quê im ắng, tĩnh mịch. Điều đó cho thấy một tâm hồn tinh tế nhạy cảm trước vẻ đẹp giản dị của cuộc sống.
-
Bài mẫu 6
Hai câu thơ đầu gợi tả cảnh làng quê vùng Thiên Trường trong ánh chiều tàn. Bốn chữ "thôn Hậu thôn tiền" và "bán vô bán hữu" liên kết đôi, tạo nên sự cân xứng hài hòa về ngôn ngữ đã gợi lên cảnh xóm thôn nối tiếp gần xa, đông đúc, trù phú. Trong bóng chiều nhạt nhòa, xóm thôn "trước xóm sau thôn" phủ mờ khói như càng trở nên mơ màng, mênh mang. Khói của sương chiều. Khói lam chiều vấn vương, nhẹ bay trên những mái nhà gianh sau lũy tre làng.
Chỉ bằng 3 nét vẽ rất chọn lọc, lối tả ít mà gợi nhiều của thi pháp cổ, thi sĩ đã làm hiện lên một không gian nghệ thuật về cảnh sắc làng quê một buổi chiều tàn phủ mờ sương khói và ánh tà dương nơi yên bình, êm đềm, nên thơ. Nét vẽ thanh nhẹ. Cảnh vật bao la, tĩnh lặng. Ngoại cảnh và tâm cảnh đồng hiện. Tưởng như thi sĩ đang thả hồn mình vào cảnh vật, lặng ngắm thôn xóm quê hương gần xa không chán. So sánh "đạm tự yên" (mờ nhạt như không là một hình tượng đầy thi vị. Cả một hồn quê man mác gợi cảm):
"Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô, bán hữu tịch dương biên
(Trước xóm sau thôn tựa khói lồng,
Bóng chiều man mác có dường không).
-
Bài mẫu 7
Thiên Trường - thời xưa là một huyện của tỉnh Nam Định, hay nói cách khác đây là một làng quê nông thôn Bắc Bộ, hai câu thơ đầu cũng chính là lời giới thiệu về mảnh đất quê hương của tác giả:
"Thôn hậu thôn tiền đạm tự yênBán vô bán hữu tịch dương biên"
(Trước xóm sau thôn tựa khói lồngBóng chiều man mác có dường không)
Với đặc điểm thiên nhiên - khí hậu đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ, vào buổi chiều tà khi mặt trời đã lặn thường có sương xuống, đặc biệt là vào mùa thu, lớp sương dày đặc bao bao phủ cả bầu trời, trùm lên những ngôi làng. Lớp sương phủ trắng xóa ấy được nhà thơ ví "tựa khói lồng" bởi sự len lỏi, bao trùm và hòa quyện của sương khói, trong lớp sương ấy thôn trước, thôn sau ẩn hiện nửa thực nửa hư, nửa có nửa không. Ta cảm nhận được một không gian chiều muộn thôn quê thanh bình, thơ mộng và yên ả, cảm nhận được tình yêu, tấm lòng gắn bó với quê hương của nhà thơ.
-
Bài mẫu 8
Trong bài thơ “Thiên Trường vãn vọng”, tôi ấn tượng nhất với hình ảnh ở cuối bài thơ: “ Bạch lộ song song phi hạ điền”. Tác giả Trần Nhân Tông đã kết thúc bài thơ bằng hình ảnh đôi cò trắng đang hạ xuống cánh đồng. Đây vốn là một hình ảnh quen thuộc, gần gũi với làng quê xưa. Ta có thể hình dung ra cảnh tượng đoàn tụ. Sau một ngày vất vả kiếm ăn, đôi cò trắng trở về tổ. Cũng giống như vậy, con người trở về nhà sau một ngày lao động vất vả. Dường như, hình ảnh này là muốn thể hiện khao khát được trở về quê hương của tác giả.
-
Bài mẫu 9
Nhan đề Thiên Trường vãn vọng của Trần Nhân Tông tuy chỉ gồm vài từ ngắn gọn nhưng đã mở ra trước mắt người đọc cả không gian, thời gian và cảm xúc chủ đạo của bài thơ. “Thiên Trường” là tên vùng đất quê hương, “vãn” chỉ buổi chiều tà, còn “vọng” mang nghĩa nhìn ngắm từ xa, vì vậy nhan đề có thể hiểu là ngắm cảnh Thiên Trường trong buổi chiều. Bài thơ được sáng tác khi Trần Nhân Tông trở về thăm quê cũ, bởi thế cảnh vật hiện lên không chỉ đẹp mà còn thấm đượm tình cảm gắn bó với quê hương. Từ “vãn” gợi thời điểm cuối ngày, khi ánh sáng dần buông xuống, vạn vật trở nên yên ả và con người, muông thú cũng chuẩn bị trở về sau một ngày lao động. Trong khi đó, chữ “vọng” lại gợi tư thế của nhân vật trữ tình đang phóng tầm mắt ra xa để thu vào tâm hồn vẻ đẹp thanh bình của quê nhà. Chỉ bằng một nhan đề cô đọng, tác giả đã định hướng cho người đọc về cả không gian Thiên Trường, thời gian chiều muộn và tâm thế lặng ngắm của một con người đang trở về nơi thân thuộc. Qua đó, nhan đề không chỉ khái quát nội dung bài thơ mà còn thấp thoáng một tình yêu quê hương sâu lắng, khiến bức tranh Thiên Trường hiện lên vừa bình dị vừa giàu chất trữ tình.


















