Top 7 Bài phân tích những nghịch lí xảy ra trong truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa" hay nhất

04-05-2022 7 54 0 0 Báo lỗi

Trong truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu ông đã xây dựng thành công những tình huống nghịch lý. Qua đó nhà văn thể hiện cái nhìn đa chiều để đánh giá đúng nhất về bản chất của sự vật hiện tượng..trong cuộc sống. Để nhận định rõ hơn về điều này, mời bạn đọc cùng tham khảo một số bài văn phân tính những nghịch lý trong tác phẩm nhé:

1 Hà Ngô

Bài tham khảo số 1

Nguyễn Minh Châu là người “mở đường tinh anh nhất” của nền văn học thời kì đổi mới. Truyện ngắn chiếc thuyền ngoài xa là một trong những truyện ngắn đặc sắc nhất của ông. Truyện được sáng tác vào tháng 8-1983. Không những thế tác phẩm này còn đánh dấu sự chuyển thể từ cảm hứng lãng mạn sang cảm hứng thế sự của nhà văn. Nguyễn Minh Châu thời kì này đã đi vào tìm kiếm những hạt ngọc ẩn sau trong tâm hồn con người và khám phá những nghịch lý của cuộc sống. Chiếc thuyền ngoài xa là một tác phẩm thể hiện rõ nhất sự nghịch lý của cuộc đời mà Nguyễn Minh Châu đã khám phá và phát hiện ra.


Nghịch lý thứ nhất là bức tranh toàn cảnh thuyền và biển trong buổi sáng tinh sương lúc xa và lúc gần bờ. Nói cách khác thì ở đây chính là sự nghịch lý trong chính nghệ thuật.


Sự khám phá phát hiện ấy được thể hiện qua nhân vật nghệ sĩ Phùng. Anh là một nhà nhiếp ảnh nổi tiếng được giao đi công tác tại vùng biển để chụp khoảnh khắc thuyền và biển cho bộ lịch năm ấy. Và tại đây nghệ sĩ phùng đã được chứng kiến một cảnh đẹp trời cho. Thuyền và biển trong làn sương sớm giống như “một bức tranh mực tàu của họa sĩ thời cổ”. Anh chợt nhận ra một vẻ đẹp toàn bích mà lâu nay rất gần gũi với đời sống của chúng ta.


Đúng là nghệ thuật sinh ra từ cuộc sống này. Mọi đường nét của bức ảnh ấy đều hài hòa nhẹ nhàng. Mũi thuyền in những nét lòa nhòa trong làn sương sớm ấy. Chứng kiến ấy Phùng thấy lòng mình trong trẻo thanh cao hơn. Anh thấy trái tim như có ai bót thắt lại. Quả thật đối với một người nghệ sĩ khi chứng kiến được tác phẩm nghệ thuật đẹp của cuộc sống này thì sung sướng và hạnh phúc biết bao. Đó là giây phút trong ngần trong cuộc đời anh. Phùng nhận ra cái đẹp là đạo đức là chân thiện mỹ. Chiêm ngưỡng cảnh đẹp nhưng anh cũng không quên bấm máy để bắt kịp cái khoảnh khắc tươi đẹp của cuộc sống ấy.


Thế nhưng sự nghịch lý lại được thể hiện ngay trong chính bức tranh tuyệt đẹp đó. Khi con thuyền tiến sâu vào bờ thì một cảnh tượng diễn ra mà nó không còn là chân thiện mỹ nữa. Hai người một ông một bà lầm lũi đi lên chỗ xe rà phá mìn. Người đàn bà kia trông có vẻ thô kệch, xấu xí và mặt giỗ. Còn người đàn ông to cao lực lưỡng. Bỗng họ dừng lại và Phùng ngạc nhiên khi thấy ông chồng rút thắt lưng quất tới tấp vào mặt vào người vợ mình.

Phùng bất bình và không tin vào mắt mình khi thấy cảnh tượng ấy. Người đàn bà không hề phản ứng lại mà chỉ cam chịu cắn răng chịu đau cho ông chồng đánh. Một thằng bé cầm dao chạy đến như muốn lấy mạng cha mình. thế rồi bị cha tát cho một cái lăn quay ra nền cát. Ông ta bỏ đi để lại vợ và con mình trên bãi cát dài ấy. Người đàn bà nước mắt giàn giụa lấp đầy cả những nốt rỗ lỗ chỗ trên mặt ôm thằng con vào lòng mà khóc. Cảnh tượng ấy nghịch lý hẳn so với bức tranh chân thiện mỹ kia.


Tạo nên sự nghịch lý ấy Nguyễn Minh Châu muốn nói với chúng ta về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống. Mối quan hệ ấy khăng khít gắn bó với nhau, chính đời sống sinh ra nghệ thuật. Điều cơ bản là nghệ thuật kia phải gắn với đời sống và không được rời xa cuộc sống. Như thế mới gọi là nghệ thuật đích thực. Cuộc sống này cũng có nhiều sự nghịch lý đa đoan như thế nên chúng ta không thể nhìn một cách phiến diện một chiều.


Nghịch lý thứ hai là câu chuyện về bạo lực gia đình của gia đình người đàn bà hàng chài. Người đàn bà ấy tại sao cứ cam chịu cái số phận để cho chồng đánh năm bữa nhẹ một bữa nặng. Như nghệ sĩ Phùng là người chứng kiến còn không thể chịu được mà tại sao người đàn bà lại chịu đựng một cách ngu ngốc đến thế. Phùng đã nhờ Đẩu gọi người đàn bà kia lên khuyên nhủ. Thế nhưng qua câu chuyện về cuộc đời bà cả hai vị chánh án, nghệ sĩ đều nhận ra những mặt khác của cuộc đời này. Cái nghịch lý là người đàn bà kia chịu đựng để cho ông chồng đánh lại trở thành cái có lý trong cuộc đời bà. Ngày xưa thì ông ta cũng là một người hiền lành lắm, bà bị mặt giỗ sau một trận đậu mùa. Vậy là ế chồng luôn, bố mẹ của bà mất đi chính ông ấy đã cưu mang cuộc đời bà. Họ sống với nhau trên con thuyền ấy nhưng nghèo quá. Đã thế lại đẻ nhiều cho nên ông chồng chán đời tủi nhục. Bà đành trở thành nơi để ông có thể trút giận chỉ mong sao ông có thể vững tay chèo. Hóa ra bà không hề ngu ngốc bà hi sinh vì những đứa con của bà, hi sinh vì thương người chồng tội nghiệp. Mặt khác trên thuyền cũng có nhiều lúc gia đình vợ chồng con cái vui vầy.


Qua sự nghịch lý ấy ta thấy cuộc đấu tranh chống bạo lực gia đình tha hóa đạo đức còn gian nan hơn cả cuộc chiến tranh chống xâm lược. Trong khi đất nước đi lên xã hội chủ nghĩa, xây dựng một xã hội dân chủ công bằng thì ở đâu đó vẫn tồn tại những bạo lực gia đình. Đôi khi nhà nước không thể lo hết được những việc vụn vặt của từng gia đình.


Sự nghịch lý thứ ba là sự nghịch lý trong chính con người. Đó là cách mà nhà văn khám phá về con người trong thời đại mới. Điều đó được thể hiện trong chính người đàn bà hàng chài. Chị có một vẻ ngoài xấu xí thô kệch thế nhưng bên trong lại là một người vợ thương chồng, một người mẹ cam chịu đau đớn để hi sinh vì con. Đó chính là hạt ngọc trong tâm hồn mà Nguyễn Minh Châu đã khám phá được. Cuộc sống vất vả khó khăn như thế nhưng bà vẫn cam chịu đánh đập để cho con có thể sống sót tồn tại. Đức hi sinh ấy chỉ có những người mẹ mới có được.


Sự nghịch lí trong nhà văn muốn gửi tới bạn đọc một thông điệp về cách nhìn nhận đánh giá một con người. Không nên nhìn theo dáng vẻ bề ngoài mà phải khám phá được điều tốt đẹp bên trong tâm hồn họ. Con người Việt nam luôn được đánh giá như những câu tục ngữ mà ông bà ta để lại. Đó là “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, “đẹp nết hơn đẹp người”.


Tóm lại nhà văn Nguyễn Minh Châu đã xây dựng thành công những nghịch trong tác phẩm chiếc thuyền ngoài xa. Qua đó nhà văn muốn thể hiện tất cả những sự vật hiện tượng xung quanh cuộc sống của chúng ta đều tồn tại những mặt đối lập. Những mặt ấy bổ sung cho nhau. Thế nên chúng ta không nên nhìn sự vật hiện tượng hay con người một chiều, phiếm diện. Đối với cuộc sống phức tạp này cần có cái nhìn đa chiều để đánh giá đúng nhất về bản chất của sự vật hiện tượng con người đó.

Bài tham khảo số 1
Bài tham khảo số 1
Bài tham khảo số 1
Bài tham khảo số 1

2 Hà Ngô

Bài tham khảo số 2

"Chiếc thuyền ngoài xa" là nhan đề một truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Minh Châu, được in trong tập Bến quê (1985), sau đó được đưa vào và dùng làm tên cho một tuyển tập - gồm 15 truyện - do nhà xuất bản Tác phẩm mới ấn hành năm 1987. Thiên truyện được đưa vào giảng dạy trong chương trình văn học lớp 12 phổ thông- cả ban khoa học xã hội - nhân văn lẫn ban cơ bản.


Truyện gồm 5 phần mở ra bao nghịch lý đời thường: một người trưởng phòng mẫn cán muốn có tờ lịch "tĩnh vật hoàn toàn" về thuyền và biển có sương giữa mùa tháng Bảy nhưng thực tế không thể tước bỏ được hình ảnh con người; người nghệ sĩ - Phùng - thu vào ống kính mình một cảnh thuyền và biển thật đẹp thì chính từ cảnh đó lại xuất hiện những cái thật xấu; một người đàn bà bị chồng hành hạ một cách vô lý nhưng không bao giờ muốn từ bỏ kẻ độc ác ấy; những người chiến sĩ nhiệt thành, dũng cảm đã từng chiến đấu giải phóng miền Nam khỏi nanh vuốt quân xâm lược Mĩ nhưng lại không thể làm thế nào để giải thoát cho một người đàn bà bất hạnh,v.v..Đấy là những minh chứng sinh động cho cách nhìn đa diện của Nguyễn Minh Châu, như chính ông từng khẳng định: "Nhà văn không có quyền nhìn sự vật một cách đơn giản, và nhà văn cần phải phấn đấu để đào xới bản chất con người vào các tầng sâu lịch sử".


Phần mở truyện kể trọn vẹn sự cần thiết phải có bức ảnh. Nguyên- trưởng phòng- "là người sâu sắc, lại cũng lắm sáng kiến" yêu cầu tổ nhiếp ảnh "Phải có một bộ sưu tập chuyên đề. 12 tháng là 12 bức ảnh nghệ thuật về thuyền và biển. Không có người. Hoàn toàn thế giới tĩnh vật". Suốt năm tháng làm việc khá thông đồng bén giọt, tổ nhiếp ảnh nghệ thuật đã mang về không biết cơ man nào là ảnh nhưng cũng chỉ có 11 bức được lọt vào cặp mắt xanh của viên trưởng phòng "sâu sắc nước đời". Một bức ảnh còn thiếu hụt oái oăm kia được trưởng phòng tin khẩn giao cho "tôi"(tên là Phùng - nhân vật người kể chuyện) phải săn tìm cho được. Mà là tấm ảnh chụp có "sương biển" giữa mùa tháng bảy - cái tháng mà thông thường "chỉ có bão táp với biển động". Thật là một vụ gieo trồng trái vụ vì thông thường" Muốn lấy xương thì phải nghĩ đến từ tháng ba!".


Nhưng rồi "khi nên trời cũng chiều người", "tôi" đã trở lại vùng biển chiến trường xưa, cách Hà Nội sáu trăm cây số" và vác máy nằm "phục kích" ở chính cái nơi mà "dường như trong suốt dải bờ biển khắp cả nước, chỉ ở đây vào giữa tháng bảy là còn sương mù". Đây cũng còn là quê của một đồng đội cũ của "tôi", giờ đang là Chánh án toà án huyện. Thật là gồm đủ "thiên thời, địa lợi, nhân hoà". Và Phùng đã bỏ qua nhiều cảnh có "không khí vui nhộn hơi thô lỗ và thật hùng tráng" để chớp lấy cái khoảnh khắc "đắt" trời cho". Đó là cảnh đẹp như "một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn và trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ...".


Nhà nghệ sĩ dạt dào một cảm hứng nghệ thuật, trải qua một khoảnh khắc yên sĩ phi lý thuần tuyệt diệu: "toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào? (...). Trong giây phút bối rối, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn.". Và tuyệt tác đã ra đời trong sự hưng phấn nghệ thuật tuyệt vời " cái khoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn mình, do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại". Cần chú ý thành phần phụ chú " do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại" trong lời kể chuyện. Niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ chính là cái hạnh phúc của khám phá và sáng tạo, cảm nhận và chớp lấy cái đẹp tuyệt diệu hiện ra trong khoảnh khắc. Dường như trong hình ảnh chiếc thuyền giữa biển mờ sương, anh đã bắt gặp cái tận Thiện, tận Mỹ, thấy tâm hồn mình như được gột rửa, thanh lọc trở nên thật trong trẻo, tinh khôi bởi cái đẹp hài hoà, lãng mạn của cảnh vật. Đó là niềm hân hoan của người nghệ sĩ sau phát hiện thứ nhất. Một niềm hân hoan mãn nguyện.


Như thế, xét riêng về công vụ, nhiệm vụ của "tôi" lúc này đã hoàn thành. "Tôi" đã có cảnh thuyền và biển trong sương đúng như đặt hàng của trưởng phòng, mặc dù giữa mùa tháng bảy! Và "tôi" đã có thể ung dung "nhảy lên tàu hoả trở về". Nếu khéo liên hệ một tí, ta dễ thấy nếu như nhân vật "tôi" về ngay lúc đó khác nào cô Nguyệt (trong Mảnh trăng cuối rừng) xuống xe ở cầu Đá Xanh. Tức là chỉ dừng lại ở chỗ được hưởng cái may mắn do cuộc đời đem lại cho mình.


Phần đầu truyện như thế đủ cho người đọc biết xuất xứ của bức ảnh nghệ thuật đặc sắc trên cuốn lịch năm mới kia ra đời thế nào. Và nếu nghĩ sâu xa hơn thì cũng cần bấy nhiêu ấy cũng đủ cho bộ môn lý luận nghệ thuật khái quát về mối quan hệ giữa công phu lao động nghệ thuật của nghệ sĩ và thực tế cuộc sống, theo tinh thần mà Chế Lan Viên đã khái quát bằng thơ: "Bài thơ anh, anh làm một nửa thôi/ Còn một nửa để mùa thu làm hộ".


Phần kết truyện cho biết người trưởng phòng rất hài lòng với bức ảnh và bức ảnh không chỉ sống cuộc đời một cuốn lịch năm mà "mãi mãi về sau, tấm ảnh chụp vẫn còn được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật".

Theo dòng kể của "tôi" rõ ràng chiếc thuyền được chụp trong một cự li tương đối gần - "một chiếc thuyền lưới vó...đang chèo thẳng vào trước mặt tôi"- nhà nghệ sĩ nhìn rõ cả "những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó". Người thưởng thức bức ảnh thông thường chắc không ai không cảm nhận chiếc thuyền đang được chụp trong một cự ly gần như thế. Thế nhưng vì sao tác giả lại đặt nhan đề truyện là "chiếc thuyền ngoài xa"?

Nhan đề vốn cần cô đọng, hàm súc, phản ánh trung thành nội dung văn bản. Có khi nhan đề phản ánh các đối tượng trình bày, có khi phản ánh quan niệm, cách nhìn của tác giả đối với đối tượng, có khi lại là sự kết hợp của rất nhiều nhân tố nhưng dù trong bất kì trường hợp nào, tất cả các nhan đề đều phải được rút ra, được khái quát từ chính nội dung văn bản. Nếu như nhan đề chỉ đơn thuần phản ánh các đối tượng thì hẳn chiếc thuyền trong ảnh không phải là ngoài xa! Phải chăng nhan đề đó phản ánh cách nhìn của tác giả đối với đối tượng.


Thật vậy, theo yêu cầu của trưởng phòng, bức ảnh phải săn tìm lần này "Không có người. Hoàn toàn thế giới tĩnh vật" những bức ảnh chụp được lại có vài bóng người lớn lẫn trẻ con". Như không sao vì dù có người thì người cũng chỉ "ngồi im phăng phắc như tượng"!


Điều đáng nói là bức ảnh tĩnh vật như thế đã ghi nhận được cái gì? Truyện cho ta thấy đấy quả là một bức ảnh đẹp được chụp từ một cự li khá gần nhưng cái cách tiếp cận "thực tế", tiếp cận "nguyên mẫu" như thế là cách tiếp cận từ xa! Vì sao vậy? Vì nhà nghệ sĩ chỉ thu được cái hình hài bên ngoài, cái thơ mộng bên ngoài của cảnh và người.


Nói như vậy vì sau cái phát hiện thứ nhất đầy hạnh phúc đã nói ở trên, người nghệ sĩ nhiếp ảnh lại có phát hiện thứ hai. Nhưng phát hiện lần này không phải được ghi vào ống kính mà nó đã hằn sâu trong tâm thức người nghệ sĩ. Đó là cái nghịch lý, nó bất ngờ và trớ trêu như trò đùa quái ác của cuộc sống. Chỉ trước đó mấy phút, nghệ sĩ Phùng đã từng có cái khoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn mình và anh cũng đã từng chiêm nghiệm "bản thân cái đẹp chính là đạo đức" vậy mà hoá ra đằng sau cái đẹp "toàn bích, toàn thiện" mà anh vừa bắt gặp trên mặt biển kia chẳng phải là "đạo đức' là chân lý của sự hoàn thiện vì ngay sau đó anh đã chứng kiến từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như trong mơ ấy bước ra một người đàn bà xấu xí mệt mỏi và cam chịu, một lão đàn ông thô kệch, dữ dằn, độc ác, coi việc đánh vợ như một phương cách để giải thoát những uất ức khổ đau.


Nghịch lý cuộc đời là ở chỗ ngay sau khi nhà nghệ sĩ "săn tìm" được cái đẹp trong cảnh vật để sáng tạo ra cái đẹp nghệ thuật kia, thì anh ta đã phải chứng kiến một cảnh đời cay cực, ngang trái mà không một người bình thường nào có thể ngoảnh mặt làm ngơ, nói chi đến nghệ sĩ vốn được coi là những con người đa cảm, đa mang!


Là nghệ sĩ và đã từng là một người lính , chứng kiến cảnh thằng con- tên Phác- vì thương mẹ mà đánh lại cha, khi thì bằng chính chiếc thắt lưng lính nguỵ mà người cha của nó dùng để đánh mẹ nó, khi thì định dùng cả “ám khí” là một con dao găm lận ‘trong cạp quần đùi”, nhân vật “ tôi” đã không khoanh tay ngồi nhìn vì “ bất luận trong hoàn cảnh nào, tôi cũng không cho phép hắn đánh một người đàn bà, cho dù đó là vợ và tự nguyện rúc vào trong xó bãi xe tăng kín đáo cho hắn đánh” . Và hậu quả của hành động can thiệp đầy nghĩa khí‘ giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha” ấy là việc Phùng đã bị thương vì người chồng kia chống trả quyết liệt để tự vệ. Vậy cái cảnh thơ mộng đẹp đẽ mà anh thu được vào ống kính Pratica và cái cái cảnh đời ngang trái mà trong tư cách cựu chiến binh anh đã chứng kiến và tham dự cái nào cận nhân tình hơn?

Phùng cay đắng nhận thấy những cái ngang trái xấu xa, những bi kịch trong gia đình thuyền chài kia đã là thứ thuốc rửa quái đản làm những thước phim huyền diệu mà anh dày công và may mắn chụp được bỗng hiện hình thật khủng khiếp ghê sợ. Do đó ảnh chụp chiếc thuyền thơ mộng kia chẳng phải là kết quả của lối tiếp cận hiện thực từ xa ư? Chiếc thuyền ngoài xa được chụp trong cự li gần là với ý nghĩa như vậy!

Chưa hết, do dưỡng thương và nể bạn nên Phùng nán lại thêm mấy hôm ở mảnh đất ấy và chính lần này anh mới vỡ ra mọi lẽ. Chứng kiến buổi làm việc giữa Đẩu – người đồng đội cũ của mình giờ là Chánh án toàn án huyện và người phụ nữ khốn khổ kia , Phùng mới hiểu ra rằng: Thì ra nếu chiếc thuyền chụp được thật đẹp đẽ và cái cảnh anh được chứng kiến rất tàn tệ kia là hai mặt đối lập nhưng thống nhất, như hai mặt của một tờ giấy trong cuộc đời gia đình nhà chài nọ. Vì sao người phụ nữ phải cam chịu một bề, không chống trả những trận “đòn chồng” và cũng không chịu li dị, hiểu theo nghĩa nào đó là không chịu “ giải phóng” mình. Cái lí do chị đưa ra đã khiến hai người cựu chiến binh tốt bụng – một là một nghệ sĩ, một được mệnh danh là một Bao công- đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Hãy nghe người đàn bà bất hạnh ấy tâm sự , lí giải:

-“ Chị cảm ơn các chú! Đây là chị nói thành thực, chị cảm ơn các chú. Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn…cho nên các chú đâu có hiểu cái việc của các người làm ăn lam lũ , khó nhọc…”

- “ Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão ách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu. giá mà lão uống rượu…thì tôi còn đỡ khổ…Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão…đưa tôi lên bờ mà đánh”

- “ Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông …Cũng có khi biển động sóng gió chứ?”.

Chỉ qua lời giãi bày thật tình của người phụ nữ đáng thương đó, Phùng , Đẩu mới thấy rõ nguồn gốc mọi sự chịu đựng, hi sinh của bà là tình thương vô bờ đối với những đứa con “ đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới một chục đứa…phải sống cho con chứ không phải sống cho mình…”. Đến lúc này đây thì cả hai người đàn ông hiểu ra rằng mọi ý nghĩ theo kiểu yêu cầu người phụ nữ bỏ chồng là xong, lên bờ sống là xong đều là những ý nghĩ đơn giản, cạn cợt. Trong khổ đau triền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc và trân trọng những hạnh phúc nhỏ nhoi: "Vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no” “trên thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hoà thuận vui vẻ”.

Cái vòng luẩn quẩn của những kiếp người cần lao quả thật đầy bất ngờ đối với Phùng , vốn đã trải qua mấy năm chiến đấu tại mảnh đất này, đã giải phóng mảnh đất này và hiện đang là nhà báo từng dong ruổi nhiều nơi! Và anh cũng kịp nhận ra rằng vì sao ông lão (cha người phụ nữ) làm nghề sơn tràng “ ở tận trên miền rừng A So” và thằng cháu ngoại lại hay xuất hiện ở miệt biển này và tại sao trong buổi sáng chia tay anh ông lão luôn “đặt hai con mắt đầy vẻ lo lắng ra ngoài mặt phá, nơi có chiếc thuyền”. Vậy, với tất cả những điều ấy, “chiếc thuyền nghệ thuật” của anh đã nói được cái gì cận nhân tình chưa hay cũng chỉ là “ chiếc thuyền ngoài xa”? Nhan đề ấy phản ánh quan niệm, cách nhìn của tác giả đối với đối tượng.

Tóm lại, qua thiên truyện và cách đặt tên nhan đề, ta thấy nhân vật “ tôi” vẫn chưa hoàn toàn thoả mãn với những gì ống kính của mình đã thu được. Đằng sau bức ảnh chiếc thuyền thơ mộng ấy còn là những cuộc đời , những con người lầm lụi, khốn khổ đến quẫn trí và giải toả cái quẫn trí ấy bằng những giải pháp hết sức kì quặc. Bức ảnh “thuyền và biển” kia đã nói được gì đâu. Và đó là cách để nhà văn Nguyễn Minh Châu bộc lộ thiên hướng muốn nắm bắt hiện thực ở bề sâu ẩn kín chứa đầy những nghịch lí , mâu thuẫn của đời sống hậu chiến tranh và đó cũng là đặc điểm nổi bật mới mẻ của phong cách Nguyễn Minh Châu, người tiên phong tinh tường và tài ba trên hành trình đổi mới văn học nước nhà. Có thể hiểu “ Con thuyền ngoài xa” là những suy nghĩ da diết về chân lí nghệ thuật và đời sống. Chính khát vọng muốn tìm đến cái đẹp, cái hài hoà, muốn làm cho con người hạnh phúc nhiều khi đã đưa người ta đến chỗ giản đơn hoá không nhận ra cái thực tế khắc nghiệt thì suy cho cùng cũng chỉ là một kiểu “ lướt nhẹ trên bề mặt cuộc sống” chứ đâu đã là thứ nghệ thuật “ là tiếng đau khổ…thoát ra từ những kiếp lầm than” ( Nam Cao- Trăng sáng).

Từ đó, có thể phát hiện ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa: Khi con thuyền đối tượng của nghệ thuật được chiếm lĩnh từ xa, một khoảng cách đủ để tạo nên vẻ đẹp huyền ảo, nhưng sự thực cuộc đời có lẽ phải được chiếm lĩnh ở cự li gần. Đừng vì nghệ thuật thuần tuý mà bỏ quên cuộc đời, bởi lẽ nghệ thuật chân chính luôn là cuộc đời và vì cuộc đời. Trước khi là một nghệ sĩ biết rung động trước cái đẹp, hãy là một con người biết yêu ghét, vui buồn trước cuộc đời, biết hành động để có một cuộc sống xứng đáng với con người. Với ý nghĩa ấy, phần nào gợi ra những liên tưởng tương đồng với truyện “Trăng sáng” của nhà văn tiền bối Nam Cao.

Hỏi có ai như chính tác giả của bức ảnh Chiếc thuyền ngoài xa” thấy được rằng “tuy là ảnh đen trắng, nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi lại thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn, hoà lẫn trong đám đông”. Phải chăng đó là “nỗi lo âu sao mà lớn lao và đầy khắc khoải” cho hạnh phúc con người của nhà văn lớn Nguyễn Minh Châu .

Bài tham khảo số 2
Bài tham khảo số 2
Bài tham khảo số 2
Bài tham khảo số 2
3 Hà Ngô

Bài tham khảo số 3

Nguyễn Minh Châu là nhà văn với phong cách sáng tác giàu tính biểu tượng trong nền văn học Việt Nam. Những tác phẩm của ông luôn khiến người đọc phải trằn trọc, suy nghĩ rất nhiều. Truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa" là một câu chuyện giàu sức gợi cảm như thế.


Trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa nhà văn Nguyễn Minh Châu đã tạo nên những tình huống truyện khá độc đáo, tạo cho người đọc sự suy nghĩ về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống và đặt ra một vấn đề hết sức quan trọng của xã hội là khi nhìn cuộc sống chúng ta phải có cái nhìn đa chiều, chúng ta mới hiểu cuộc sống sâu sắc hơn.


Một tình huống truyện khá độc đáo mà Nguyễn Minh Châu đã tạo ra trong truyện ngắn này đó là khi người đàn bà được Đẩu (Bao Công của cái chuyện ven biển này) mời đến huyện để khuyên người đàn bà ly hôn với chồng. Sau khi thấy các biện pháp giáo dục, răn đe người chồng không có kết quả, chánh án Đẩu đã khuyên chị ta nên ly hôn để khỏi bị hành hạ, ngược đãi. Lúc đầu, người đàn bà sợ sệt, lúng túng, cách xưng hô nhún nhường, giọng điệu van xin khẩn khiết "Con lạy quý tòa... quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó..." . Rõ ràng, đó là lời van xin bất thường, đầy nghịch lí, khiến cả Đẩu và Phùng ngạc nhiên. Người đàn bà tự tin, chỉ lộ sự sắc sảo vừa đủ để thuật lại câu chuyện đẫm nước mắt của đời mình và những lí do khiến chị ta không thể bỏ chồng, bằng một cách xưng hô mộc mạc, thân tình.


Thời thiếu nữ, bà là một cô gái kém nhan sắc, lại "rỗ mặt sau một bận lên đậu mùa". Vì không ai lấy, bà "lỡ có mang với một anh con trai hàng chài đến mua bả về đau lưới", rồi thành vợ chồng. Cuộc mưu sinh trên biển bấp bênh, rồi "đẻ nhiều, thuyền lại chật"... Cái đói nghèo vây bủa, có khi biển động hàng tháng "cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối". cuộc sống bế tắc đã biến chồng bà thành kẻ thô bạo, vũ phu, xem việc đánh vợ là phương cách để giải tỏa nỗi đau "Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão xách tôi ra đánh". Và cứ thế, "ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng". Những trận đòn dã man cứ trút xuống người bà.


Thật nghịch lý, dù bị đầy đọa về thể xác, chịu nhiều dằn vặt về tinh thân nhưng bà vẫn cương quyết không chịu bỏ chồng. Là bởi, "đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được", lời nói ấy của bà bộc lộ rõ được sự yêu thương dành cho con của mình. Niềm vui của bà là "ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no". Bà hiểu được nỗi vất vả của "các người làm ăn lam lũ khó nhọc". Với bà, người đàn ông chính là trụ cột không thể thiếu trong gia đình hàng chài "để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một lũ con nhà nào cũng trên dưới chục đứa" . Điều đó cũng có nghĩa là, để được yêu thương con cái, bà sẵn sàng chịu đựng tất cả. Cái cách hy sinh quên mình vì con của người đàn bà khiến ta phải xúc động.


Một lí do nữa liên quan đến lão chồng. Nếu Đẩu và Phùng nhìn lão như một thủ phạm gây ra bi kịch gia đình thì bà lại nhìn chồng với ánh mắt vị tha, thấu hiểu và độ lượng. Với bà, bản chất của chồn là "hiền lành, cục tính nhưng không bao giờ đánh đập vợ", chẳng qua vì nghèo khổ quá mới thành độc ác. Vậy là, theo cách nói của bà, lão là nạn nhân đáng thương của hoàn cảnh, cần phải được cảm thông chia sẻ. Và trong tận cùng đau khổ, bà vẫn chắt chiu được những khoảnh khắc hạnh phúc, đó là lúc "vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận, vui vẻ", và "vui nhất là lúc ngồi nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no..." những giây phút này không nhiều nhưng giúp bà thêm nghị lực để tiếp tục sống.


Lời giãi bày của người đàn bà hàng chài đã làm sáng tỏ những nghịch trong cuộc sống, giúp Đã đủ hiểu ra nhiều điều. Phùng cũng vậy, anh nhận ra tấm lòng thương con bao la của người mẹ mà với tư cách một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp, anh hiểu rằng "nghệ thuật chỉ đẹp và có ý nghĩa khi nó gắn với cuộc đời và vì cuộc đời"


Câu chuyện giúp Đẩu, Phùng và cả người đọc chúng ta hiểu rằng: Không thể nhìn sự vật, hiện tượng trong cuộc sống một cách đơn giản, dễ dãi. Nếu nhìn đơn giản, chỉ cần yêu cầu người đàn bà bỏ chồng là xong. Nếu nhìn thấu suốt vấn đề sẽ thấy suy nghĩ và cách xử sự của người đàn bà hàng chài là không thể khác được.

Bài tham khảo số 3
Bài tham khảo số 3
Bài tham khảo số 3
Bài tham khảo số 3
4 Hà Ngô

Bài tham khảo số 4

Nguyễn Minh Châu là người mở đường tinh anh và tài hoa của nền văn học Việt Nam thời kì đổi mới, các tác phẩm của ông thường thể hiện nỗi trăn trở, băn khoăn về cuộc đời, con người, qua mỗi hiện tượng, vấn đề đều gợi cho người đọc những suy ngẫm sâu sắc. Chiếc thuyền ngoài xa là một trong những truyện ngắn như vậy. Thông qua những tình huống nghịch lí, tác giả Nguyễn Minh Châu đã gửi gắm bao thông điệp về cuộc đời, về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời.


Có thể nói một trong những yếu tố quan trọng nhất làm nên thành công của truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa là nhờ xây dựng tình huống mang tính nghịch lí đầy đặc sắc. Trong khung cảnh cảnh biển sáng sớm như bức họa cổ lại xuất hiện cảnh bạo lực gia đình. Khi đang say mê chụp lại những khoảnh khắc có một không hai thì nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đã ngỡ ngàng chứng kiến cảnh người đàn ông cao lớn, thô lỗ liên tục dùng thắt lưng đánh vào người đàn bà tội nghiệp. Lão ta vừa đánh vừa chửi rủa những lời tàn nhẫn “mày chết đi cho ông nhờ, chúng mày chết hết đi cho ông nhờ”. Trước hành động bạo tàn cùng những lời nói tàn nhẫn, người đàn bà không hề phản kháng cũng không bỏ trốn mà cam chịu một cách đáng thương.


Có thể nói, nghịch lí mà Phùng phát hiện cũng chính là nghịch cảnh giữa nghệ thuật với cuộc đời thực của con người. Đó là nghịch cảnh giữa bức tranh cảnh biển tuyệt bích đầy lãng mạn với cuộc sống thực đầy đau khổ, bi kịch của gia đình người đàn bà hàng chài. Từ phát hiện này, nhiếp ảnh gia Phùng đã bưng tỉnh và nhận thức đầy đắng cay về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống.

Sau khi chứng kiến cuộc sống như địa ngục của người đàn bà hàng chài, Phùng đã không về thành phố ngay dù đã hoàn thành xong bộ ảnh lịch mà quyết định ở lại một vài ngày để cùng với chánh án Đẩu giúp đỡ người đàn bà li dị với chồng. Tuy nhiên, tại tòa án tỉnh, một lần nữa Phùng chứng kiến một nghịch lí mà mình không hề ngờ đến.

Sống một cuộc sống như địa ngục cùng người chồng vũ phu, bạo tàn “ Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng.Cả nước không có một người chồng nào như hắn” nhưng khi được Phùng và Đẩu giúp đỡ li dị chồng thì người đàn bà ấy lại có phản ứng trái ngước. Trước sự ngạc nhiên của Phùng và Đẩu, người đàn bà đã quỳ lạy và cầu xin để không bắt mình bỏ chồng “ Con lạy quý tòa, quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được đừng bắt con bỏ nó”.


Trước lời cầu xin của người đàn bà, lúc đầu Phùng cảm thấy bất bình và không sao hiểu được nhưng trước những lời giải thích của người đàn bà, Phùng đã nhận ra chân lí trong những góc khuất của cuộc đời mà nếu nhìn từ bên ngoài không thể nào nhận thức rõ ràng được. Người đàn ông vốn là người hiền lành, giàu tình thương, hắn ta đã từng cưu mang người đàn bà hàng chài trong lúc khó khăn nhất. Theo lời giải thích của người đàn bà, chỉ vì cuộc sống quá khổ mà người đàn ông sinh bạo tàn, đánh vợ là cách thức hắn ta trút bỏ mọi áp lực, khó khăn của cuộc sống.

Như vậy, người đàn ông đánh vợ không phải do bản chất độc ác mà do quá khổ. Theo lời người đàn bà, cuộc sống trên biển cần bàn tay chèo lái của người đàn ông khi biển có phong ba, bão táp “ đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba”. Sống trong cuộc sống đau khổ, đọa đầy đó nhưng cũng có lúc người đàn bà cảm thấy hạnh phúc, đó là khi các con được ăn no. Từ nghịch lí trong cuộc sống của người đàn bà hàng chài, Phùng và Đẩu đã “vỡ ra trong đầu” nhiều điều mới mẻ về nhân tình thế thái, về cuộc sống thực tế của con người.

Thông qua hai nghịch lí trong Chiếc thuyền ngoài xa, tác giả Nguyễn Minh Châu đã thể hiện mối trăn trở về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời, giữa người nghệ sĩ với hiện thực của đời sống. Bản chất của đời sống vốn phức tạp và nhiều góc khuất, nếu không nhìn sâu vào từng vấn đề, hiện tượng thì sẽ không nhận thức toàn diện về cuộc sống, cũng như cái nhìn của “chiếc thuyền ngoài xa”.

Bài tham khảo số 4
Bài tham khảo số 4
Bài tham khảo số 4
Bài tham khảo số 4
5 Hà Ngô

Bài tham khảo số 5

“Chiếc thuyền ngoài xa” là nhan đề một truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Minh Châu, được in trong tập Bến quê (1985), sau đó được đưa vào và dùng làm tên cho một tuyển tập -gồm 15 truyện - do nhà xuất bản Tác phẩm mới ấn hành năm 1987. Truyện gồm 5 phần mở ra bao nghịch lí đời thường.


Một là, nghịch lý giữa đời sống và nghệ thuật. Cả một tập thể nghệ sĩ nhiếp ảnh trong “dăm tháng” trời đã chụp được “hàng trăm bức ảnh đẹp, chụp công phu …”, được ông Trưởng phòng “là người sâu sắc, lại cũng lắm sáng kiến” đánh giá là “đẹp thì đẹp thực … và nhất là lại có hồn nữa. Đúng là những bức ảnh nghệ thuật”.


Thế mà, cũng chính vì trưởng phòng thông minh này lại “không thể chọn đủ cho mười hai tháng, vẫn đang còn thiếu một tờ”. Thì ra người nghệ sĩ dù có cố gắng bao nhiêu, nỗ lực bao nhiêu, đầu tư nhiều thời gian, bỏ ra nhiều tâm huyết và trí tuệ bao nhiêu cũng chưa thể đáp ứng được đòi hỏi của cuộc sống. Người nghệ sĩ không bao giờ được thoả mãn, phải luôn coi mục đích nghệ thuật luôn ở phía trước để phấn đấu. Đây có thể coi là thông điệp nghệ thuật thứ nhất của nhà văn.


Hai là, nghịch lý giữa cảnh đẹp của thiên nhiên thơ mộng trữ tình và di hoạ chiến tranh. Cái bờ biển ấy cách Hà Nội hơn sáu trăm cây số, được Phùng – nhà nghệ sĩ nhiếp ảnh nhìn bằng con mắt “nhà nghề”, nó “thật là thơ mộng”, “thật là phẳng lặng và tươi mát như da thịt của mùa thu …”, thế nhưng lại có “những bãi xe tăng do bọn thiết giáp nguỵ vứt lại trên đường rút chạy hồi “tháng ba bảy nhăm” (bây giờ sau gần mười năm, đã bị hơi nước gặm mòn và làm cho sét gỉ)…”. Theo tôi từ chi tiết này ít nhất cũng mang ba dụng ý nghệ thuật sau. Thứ nhất, nó nhắc nhở người nghệ sĩ đừng bao giờ quên cái nghịch lý của đời sống. Nghệ thuật không chỉ ở cảnh đẹp thơ mộng mà còn ở cả cái hiện thực sần sù gai góc kia. Thứ hai, để bạn đọc khỏi ngỡ ngàng nó như là một sự báo hiệu đưa dần bạn đọc vào chủ đề chính thể hiện ở những tình huống nghịch lý căng thẳng dữ dội hơn. Đây có thể coi là một biện pháp tâm lý mời gọi bạn đọc theo dõi những diễn biến tiếp sau của câu chuyện. Thứ ba, nó nhắc khéo bạn đọc bối cảnh ra đời của câu chuyện là chưa xa một thời chiến tranh (chú ý một chi tiết nhỏ “sau gần mười năm”). Mà chiến tranh bao giờ cũng đi liền với sự mất mát, đau thương nên di hoạ, cả ở phương diện vật chất và phương diện tinh thần vẫn còn tồn tại dai dẳng. Do vậy, những điều gì xấu, phi nhân tính được đề cập ở phần sau của câu chuyện cũng không có gì lạ. Cái mà chúng ta cần là làm sao xoá bớt dần di hoạ chiến tranh, làm liền sẹo những nỗi đau mà chiến tranh để lại. Đây cũng là một ẩn ý cần được khai thác sâu hơn.


Ba là, nghịch lý giữa cảnh thiên nhiên đẹp thơ mộng hữu tình và cái đẹp vô hồn. Chúng ta tạm quy ước “đẹp” là một khái niệm mang tính ước lệ cao để khỏi phải vướng vào hàng rào của đường biên khái niệm này, và thống nhất với nhau, ở ngoài đời cũng như trong văn chương vẫn tồn tại cái đẹp có hồn và cái đẹp vô hồn. Lần thứ nhất Phùng không lấy “cảnh người ta đẩy một chiếc thuyền xuống nước” vì “ cảnh đẩy thuyền đầy không khí vui nhộn… thật hùng tráng” này lại có gì “hơi thô lỗ”. Lần thứ hai Phùng cũng không thể lấy cảnh “thuyền đánh cá thu lưới vào lúc nhập nhoạng sáng” vì đó là “một cảnh chết” có quá nhiều người đã khai thác. Lần thứ ba Phùng cũng không lấy cảnh “Đằng đông đã trắng sáng. Trên một nửa vòm trời sao đã lặn hết. Những đám mây hình vỏ sò cứ hồng lên dần, trong khi đó, mặt biển tuy đã sáng rõ, đến cái mức đứng trong bờ cũng nhìn thấy từng đường gấp nếp lăn tăn trên mặt tấm thép dát màu xám đục ”. Nhưng cũng chính cảnh này “sao mà tẻ nhạt, tiếng sóng ồ ồ dội vào giấc ngủ suốt đêm chạy trốn đi đâu hết, biển im thít và không màu sắc, như một con sứa khổng lồ giạt vào bãi”. Phải đến lần thứ tư Phùng mới quyết định bấm máy để thu vào ống kính “… vài ba chiếc mũi thuyền và một cảnh đan chéo của những tấm lưới đọng đầy những giọt nước, mỗi mắt lưới sẽ là một nốt nhạc trong bản hoà tấu ánh sáng và bóng tối, tượng tưng cho khung cảnh bình minh là một khoảng sáng rực rỡ đến mức chói mắt, trong khoảng sáng đó sẽ hiện lên trong tầm nhìn thật xa những đường nét của thân hình một người đàn bà đang cúi lom khom, sải cánh tay thật dài về phía trước kéo tấm lưới lên khỏi mặt nước, và phía sau lưng người đàn bà, hình một ngư phủ và một đứa trẻ đứng thẳng trên đầu mũi thuyền, dùng lực toàn thân làm đòn bẩy nâng bổng hai chiếc gọng lưới chĩa thẳng lên trời”.


Đúng là một cảnh đẹp có hồn, khoẻ khoắn, trong sáng, tươi vui! Đó là một cảnh thật hài hoà về hình ảnh, màu sắc. Nhà hoạ sĩ đã hoà phối sắc màu có cả ánh sáng và bóng tối, cả cận cảnh và viễn cảnh “văn trong hữu hoạ” trong văn có hoạ và có cả “văn trung hữu nhạc” trong văn có nhạc (mỗi mắt lưới sẽ là một nốt nhạc), có cả cảnh thiên nhiên và cảnh con người lao động, có cảnh khách quan và có cả chủ quan của chủ thể (chói mắt).Để có được cảnh này Phùng phải qua bốn lần quyết định. Nghệ thuật là như vậy, phải là sự công phu, tìm tòi biết chờ đợi, đòi hỏi một sự kiên nhẫn cao độ. Và cũng trớ trêu thay, nghệ thuật không chỉ thế là có được mà còn phải là “giời cho” nữa. Chính Phùng đã tâm niệm điều này: “… nếu không có thêm sự sắp đặt đầy tài tình của ngẫu nhiên thì với tài ba đến bao nhiêu, anh cũng chỉ … thu được những tấm ảnh vô hồn”.


Bốn là, nghịch lý giữa “cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh” và cảnh con người lam lũ, vất vả, khổ đau. Phải đến lần thứ năm Phùng mới được “một cảnh “đắt” trời cho”: “… Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ. Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh một con dơi, toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào?”.


Phải có một bút lực mạnh mẽ, một sự am hiểu sâu sắc về hội hoạ, một sự nhạy cảm trước cái đẹp mới có thể viết nổi đoạn văn miêu tả “cái đẹp tuyệt đỉnh”, “toàn bích” này. Câu đầu là ước lệ, là cảm nhận chung “một bức tranh mực tàu …”. Các câu sau là những hình ảnh cụ thể với mũi thuyền trôi trong bầu sương mù, vài bóng người cả người lớn lẫn trẻ con, rồi những cái mắt lưới và tấm lưới … Cảnh thật huyền ảo (bầu sương mù trắng như sữa), tinh khôi, tinh khiết (màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào), vừa tĩnh tại (im phăng phắc), vừa sống động (hướng mặt vào bờ). Các tính từ láy loè nhoè, hồng hồng, phăng phắc, khum khum tăng cường thêm độ huyền ảo, như hư như thực. Các so sánh tinh tế trắng như sữa, im phăng phắc như tượng, y hệt cánh một con dơi làm đậm thêm chất tạo hình của bức tranh. Dường như ngôn từ bất lực trước cái đẹp, nhà hoạ sĩ buộc lòng phải đưa “cái tôi” chủ quan tham gia vào “quá trình thưởng thức”: “… đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào?” Làm cho bức tranh kia nhuốm thêm “sắc màu” tâm trạng.Nhưng oái oăm thay, nghịch lý và trớ trêu thay, cảnh đẹp nhất, có hồn nhất lại là cảnh ẩn chứa những điều tệ hại nhất, xót xa nhất! Đó là tiếng quát của gã ngư phủ: “Động đậy tao giết cả mày đi bây giờ”. Đó là “một thân hình quen thuộc của đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ..”. Đó là một gã đàn ông “mái tóc như tổ quạ … chân đi chữ bát … hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ…”


Chưa hết, tiếp theo là cảnh hành hung đánh đập, phi nhân tính rùng rợn: “Lão đàn ông lập tức trở lên hùng hổ, mặt đỏ gay gắt, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính nguỵ ngày xưa… chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két …” Nghiệt ngã thay! Khát vọng tìm đến cái đẹp để mong muốn làm cho con người đẹp lên là rất đáng quý nhưng người nghệ sĩ phải tỉnh táo để nhận ra cái thực tế phũ phàng của đời sống. Và đây cũng là lời cảnh tỉnh cho tất cả mọi người: hãy tỉnh táo trước cái đẹp. Bất cứ cái đẹp nào cũng rất có thể ẩn chứa những điều phức tạp đi ngược lại hạnh phúc của con người. Cái tình huống nghịch lý này trong Chiếc thuyền ngoài xa đã xua tan màn khói lãng mạn phủ lên hình ảnh tuyệt đẹp kia để làm trơ ra cái sự tàn nhẫn của đời thường. Người nghệ sĩ không chỉ nhận thấy cảnh đẹp lãng mạn bên ngoài kia mà còn phải nhìn thấy cả cảnh hành hạ man rợ của lão ngư phủ nọ. Đây là bài học, là trách nhiệm, cũng là lương tâm của nghệ thuật.


Dưới góc độ nhân vật chúng ta cũng thấy nhà văn đã sử sụng nguyên tắc nghịch lý, đối lập trong xây dựng nhân vật: cái tốt cái xấu lẫn lộn, đan cài với nhau. Người đàn bà xấu xí thô kệch ấy có vẻ bề ngoài thật quá nhẫn nhục, cam chịu “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” nhưng vẫn không chịu “chia tay” với gã chồng vũ phu tàn bạo. Bởi vì, như lời giãi bày gan ruột của người mẹ đáng thương ta mới thấy bà có một tấm lòng hi sinh vô bờ “ … đám đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa… Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình…”. Còn gã đàn ông kia cũng không hẳn hoàn toàn xấu. Vì đâu mà lão trở lên vũ phu tàn độc như vậy ? Khi xưa, theo lời vợ lão thì đó “ là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành lắm, không bao giờ đánh đập..” . Vẫn theo lời vợ lão thì là do lão “khổ quá” vì làm ăn nuôi con. Rồi đói, khi “ông trời làm biển động suốt hàng tháng, cả nhà vợ chồng con cái toàn ăn cây xương rồng luộc chấm muối… ”. Trước sau thì hắn vẫn là người lao động lương thiện, hơn nữa lại là lao động chính, kiếm sống bằng mồ hôi nước mắt của mình để nuôi mười mấy miệng ăn. Lão đánh vợ để giải toả những bức bối. Ta hãy để ý khi đánh vợ lão cũng đau đớn “Cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn”. Lão cũng không phải là kẻ hiếu chiến, không phải là kẻ chỉ thích gây gổ đánh đấm người khác, bằng cớ là ngay Phùng cũng khẳng định “lão đánh tôi hoàn toàn vì mục đích tự vệ”. Còn thằng Phác đứa trẻ ham hiểu biết (cặn kẽ giải thích cho tôi nghe cuộc sống của những giống chim trên rừng), sớm lam lũ lao động, hồn nhiên chơi với “tôi” như một người bạn thân và rất thương mẹ… Bên cạnh những phẩm chất ấy trong nó cũng ẩn chứa một tính côn đồ nguy hiểm : sẵn sàng cầm dao đâm bố để cứu mẹ. Nó sớm đã có ý thức báo thù bằng cách lấy bạo lực để ngăn cản bạo lực.

Như vậy, nhân vật trong Chiếc thuyền ngoài xa được cấu trúc với tất cả sự phức tạp của nó, không hẳn xấu cũng không hẳn là kẻ tốt. Xét đến cùng lão chồng vừa là thủ phạm gây ra cảnh đau đớn cho người vợ, cho con đẻ đồng thời cũng lại là nạn nhân của cuộc sống còn tăm tối khốn khổ. Người vợ cũng vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm, mà theo chính lời mụ thì là do “cái lỗi…là đám đàn bà ở thuyền đẻ nhiều quá”. Thằng Phác cũng thế, vừa là nạn nhân của thói côn đồ lại vừa là thủ phạm kích động thói côn đồ và chính nó cũng sớm có tính côn đồ. Những nhân vật đó chưa mang chiều kích của nhân vật tính cách với những quá trình phát triển tâm lý nhưng nó đã làm tốt chức năng thể hiện chủ đề tác phẩm. Một phương diện rất thành công của truyện ngắn là cách chọn điểm nhìn trần thuật. Nhà văn trao điểm nhìn trần thuật cho Phùng, nhân vật – người kể chuyện là cách chọn tối ưu. Phùng kể lại kể chuyện mình trực tiếp chứng kiến, trực tiếp tham gia vào biến cố câu chuyện (nói chuyện với Phác – đứa con ; đánh lại gã chồng để tránh đòn cho người đàn bà ; nghe lời trần tình, giãi bày của người vợ) nên câu chuyện kể ra rất thật, vì đó là chuyện của người kể, kể lại chuyện của mình. Cách kể này chúng tôi đã khái quát thành khái niệm “kịch hoá nhân vật – người kể chuyện ” (4). Người kể chuyện đóng vai nhân vật nhảy vào các biến cố, tham gia trực tiếp vào các diễn biến của cốt truyện, rồi kể lại cho bạn đọc nghe; điều đó đã tạo ra xu hướng trần thuật tiệm tiến gần hơn với sự thật ngoài đời. Thứ nữa, Phùng là người trải nghiệm , giàu vốn sống(từng có mười năm cầm súng đánh giặc, nay làm nghề chụp ảnh được đi nhiều nơi, tiếp xúc nhiều người) nên lời văn trần thuật chứa nhiều yếu tố triết lý, ví như “ ở đời cái gì cũng thế, con người bản tính vốn lười biếng, đôi khi mình hãy cứ để cho mình rơi vào hoàn cảnh bị ép buộc phải làm, không khéo lại làm được một cái gì”. Phải là người như Phùng, nghề nghiệp như Phùng bạn đọc mới tin và thấm thía triết lý này. Hơn nữa Phùng là một nghệ sĩ nhiếp ảnh nên tất yếu phải có yếu tố nghề nghiệp trong lời kể. Thế cho nên lời văn ở đây tràn đầy chất thơ, chất trữ tình và cũng đậm chất hoạ, chất điện ảnh thì đó cũng là điều dễ hiểu. Và các thủ pháp nghệ thuật trong lời kể cũng rõ cái dấu ấn nghề nghiệp gắn với nhân vật ví dụ một phép so sánh tả một ngư phủ. Ngư phủ thì bao giờ cũng đi liền với cái thuyền và lưới, thế nên :“Tấm lưng rộng và cong như chiếc thuyền”“Những món tóc vàng hoe có chỗ đỏ quạch như mớ lưới to đã bợt bạt”“Cặp mắt thật đen gợi cho tôi nghĩ đến con mắt người ta vẽ trên đầu mũi thuyền”

Chủ thể trần thuật là ngôi thứ nhất, người kể chuyện đồng nhất với nhân vật đã thống nhất cả hai điểm nhìn, của nhân vật vốn bị chia cắt vào từng cảnh, của người kể vốn luôn xuyên suốt các sự kiện trên một trục thời gian đã tạo nên sự nhất quán của lời văn trần thuật trong cấu trúc văn bản, vừa đi sâu, cụ thể vào các sự kiện vừa quy chiếu một cách toàn diện, hệ thống cốt truyện. Vậy nên truyện cứ lôi kéo ta vào từng chi tiết vừa hấp dẫn mời gọi ta dõi theo cái kết cục của câu chuyện sẽ như thế nào, liệu người vợ có bỏ lão chồng kia không, liệu tòa có xử cho họ ly hôn không, rồi số phận những đứa con họ sẽ ra sao…???

Đối với nhà văn tài năng thì có khi người đọc chỉ cần đọc cái tên truyện là đã nhận chân ra được phong cách của ông ta. Các tiêu đề truyện Bức tranh, Một lần đối chứng, Mảnh trăng cuối rừng, Chiếc thuyền ngoài xa… đã góp phần làm rõ hơn nội dung tác phẩm, rõ cái dấu ấn của nhà văn Nguyễn Minh Châu. ở đây “ chiếc thuyền” nghệ thuật đang trôi trên “ ngoài xa” cuộc đời đã nói lên rất hay mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, nghệ thuật nằm trong cuộc sống này, biểu hiện cuộc sống. Người nghệ sĩ chèo lái con thuyền nghệ thuật ấy vừa phải hiểu sâu sắc con thuyền nghệ thuật vừa phải nắm bắt rõ những luồng lạch, độ nông sâu của biển cả cuộc đời. Có vậy mới đưa nghệ thuật tới chân trời lý tưởng của hạnh phúc và cái đẹp của con người.

Bài tham khảo số 5
Bài tham khảo số 5
Bài tham khảo số 5
Bài tham khảo số 5
6 Hà Ngô

Bài tham khảo số 6

Nguyễn Minh Châu là người mở đường tinh anh và tài hoa của nền văn học Việt Nam giai đoạn đổi mới. Với sự thay đổi của hoàn cảnh xã hội, ngòi bút của NGuyễn Minh Châu chuyển dần từ cảm hứng lãng mạn sử thi sang tính chất triết luận về những giá trị nhân bản đời thường, nhà văn đã đi sâu khám phá đời sống và bản chất của con người trong quá trình mưu sinh kiếm sống. Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” là một trong những truyện ngắn đặc sắc nhất của Nguyễn Minh Châu, trong truyện tác giả đã xây dựng được tình huống mang tính nghịch lí, từ đó truyền tải được nhiều quan niệm nhân sinh sâu sắc.


Tình huống truyện hiểu một cách đơn giản nhất, đó chính là hoàn cảnh riêng mà tác giả tạo dựng để cho nhân vật của mình bộc lộ những suy nghĩ, hành động, từ đó thể hiện được ý tưởng, truyền tải được những quan niệm của tác giả về cuộc sống, con người.

Trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, tình huống nghịch lí được tác giả Nguyễn Minh Châu xây dựng thông qua phát hiện của nhiếp ảnh gia Phùng sau nhiều ngày chụp ảnh trên bãi biển. Đó là cái nghịch lí trong chính cuộc sống của con người, trong không gian đẹp đẽ, tuyệt bích của cảnh biển buổi sáng lại là nơi diễn tồn tại những bất công, đau khổ cho người đàn bà hàng chài.

Sau nhiều ngày chụp ảnh trên bãi biển để thực hiện bộ ảnh Tết, nghệ sĩ Phùng đã phát hiện ra một cảnh đẹp trời cho, đó chính là khung cảnh của biển trong sương mờ với vẻ đẹp như bức tranh mực tàu. Trước cảnh sắc trời cho ấy anh Phùng đã bấm máy liên tục để lưu lại những khoảnh khắc hoàn hảo, tuyệt bích không dễ có thể thấy được. Phát hiện ấy làm cho tâm hồn người nghệ sĩ trở nên bay bổng, sung sướng hạnh phúc, tâm hồn như được gột rửa trở lên trong trẻo, tinh khôi.

Tuy nhiên, ngay trong khung cảnh trời cho ấy, nghệ sĩ Phùng lại phát hiện ra một tình huống đầy nghịch lí. Từ trong chiếc thuyền bước ra một người đàn bà xấu xí, theo sau chị ta là một người đàn ông cao lớn, thô kệch, người đàn ông ấy liên tục dùng thắt lưng đánh vào người vợ, miệng chửi những lời cay độc, tàn nhẫn. Từ tình huống mang tính nghịch lí này đã giúp anh Phùng cay đắng nhận ra một sự thật tàn nhẫn, hóa ra đằng sau khung cảnh đầy thơ mộng của chiếc thuyền ngoài xa lại là hiện thực đầy đắng cay, trần trụi trong cuộc sống của con người.

Tình huống nghịch lí còn được thể hiện thông qua phiên tòa tại tòa án huyện. Sau khi đã chụp xong bộ ảnh Tết, nghệ sĩ Phùng đã không trở về ngay như dự định mà đã quyết định ở thêm vài ngày với mục đích giúp đỡ người đàn bà hàng chài bỏ chồng. Tuy nhiên, trái ngược với những gì Phùng và Đẩu suy nghĩ, người đàn bà không hề cảm thấy vui vẻ khi có người giúp đỡ mình bỏ chồng mà lại van xin để chị ta được sống với người chồng vũ phu. Câu chuyện của người đàn bà hàng chài đã giúp Phùng nhận thức sâu sắc về những éo le, phức tạp của cuộc đời.

Thông qua tình huống mang tính nghịch lí, tác giả Nguyễn Minh Châu đã khéo léo thể hiện thông điệp của bản thân về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời, giữa người nghệ sĩ và cuộc sống của người dân. Nghệ thuật cần phản ánh được chiều sâu bản chất của cuộc sống, nếu không thì tác phẩm ấy tuy đẹp nhưng lại không có giá trị, cũng như “chiếc thuyền ngoài xa”. Bên cạnh đó, qua tình huống nghịch lí ta cũng thấy được sự đồng cảm sâu sắc của nhà văn Nguyễn Minh Châu đối với số phận đau khổ, éo le của con người.

Xây dựng tình huống truyện mang tính nghịch lí là một trong những thành công lớn nhất của Nguyễn Minh Châu khi viết Chiếc thuyền ngoài xa. Qua nghịch lí này, nhà văn đã mang đến cho người đọc cái nhìn đầy mới mẻ về cuộc sống và con người trong xã hội mới.
Bài tham khảo số 6
Bài tham khảo số 6
Bài tham khảo số 6
Bài tham khảo số 6
7 Hà Ngô

Bài tham khảo số 7

Nguyễn Minh Châu (1930 - 1989) là một trong những cây bút tiên phong của văn học VN thời kì đổi mới. Ông đã để lại cho đời nhiều tác phẩm hay, đặc biệt là tác phẩm “chiếc thuyền ngoài xa” mà nhà văn để lại ấn tượng sâu sắc nhất trong lòng người đọc là hình ảnh người đàn bà hàng chài – một người phụ nữ cam chịu, vị tha, giàu đức hi sinh, có tấm lòng bao dung và rất am hiểu về cuộc sống.Tình huống truyện của tác phẩm thể hiện điều cốt lõi mà tác giả Nguyễn Minh Châu muốn gửi gắm.


Tình huống truyện dưới ngòi bút của tác giả hiện lên là nghịch lí giữa vẻ đẹp chiếc thuyền ngoài xa với một qunag cảnh vô cùng gần gũi đó chính là sự ngang trái trong gia đình thuyền chài. Sau nhiều ngày “phục kích” cũng như theo dõi, nhân vật Phùng lần đầu tiên mới được “một cảnh “đắt” trời cho”. Một bức tranh về một khung cảnh cổ xưa của con tà bắt đầu được hiện lên trong sự sáng tạo và tưởng tượng của tác giả.


Nhân vật Phùng đi ghé qua và vô tình bắt gặp ánh mắt của mình vào người đàn bà làng chài. Người nhiếp ảnh vội chụp lấy một bức ảnh. Hình ảnh người phụ nữ hiện lên với ánh mắt tần tảo, đôi vai gầy đã gánh chịu nhiều gió sương. Dưới chiếc thuyền nhỏ cũ kỹ đã khiến người nhiếp ảnh suy nghĩ về số phận của những người đàn bà làng chài nói chung hiện lên sự khó khăn trong đôi mắt họ nhưng không vì thế họ bỏ cuộc.


Sau chuyến gặp gỡ đó hé lên trong anh nhiều suy nghĩ. Hình ảnh con thuyền cứ mãi trôi dạt về xa và dần dần lặng bóng. Giữa biển khơi thăm thẳm vẫn chiếc thuyền đó, vẫn con người đó nhưng tại sao con người leaji hiện lên một cách hùng dũng như vậy. Cũng như những con người làng chài khác họ cũng có những cuộc sống riêng, những nỗi lo riêng sống cạnh biển khơi tự khắc học phải vận động thân mình để lo lắng cho những người thân yêu của họ. Chính hình ảnh đó đã khiến Phùng cảm thấy bồi hồi và lóe trong mình rất nhiều suy tư.


Qua tình huống nghịch lí của câu chuyện người phụ nữ hàng chài nhà văn thể hiện cái nhìn sâu sắc và nhân hậu của mình về cuộc đời. Ông phát hiện ra rằng đằng sau câu chuyện buồn của gia đình người lao động vùng biển là vẻ đẹp của tình mẫu tử, lòng bao dung và đức hi sinh của người phụ nữ. Số phận phẩm chất của người phụ nữ hàng chài này là số phận và phẩm chất của những người phụ nữ vùng biển nói riêng và phụ nữ VN nói chung. Đồng thời, qua đó tác giả đã khẳng định nghệ thuật chân chính phải luôn gắn liền với cuộc đời vì cuộc đời cần phải nhìn nhận cuộc sống và con người một cách đa diện đa chiều và góp một tiếng nói cảnh báo về tình trạng bạo lực gia đình và lí giải nguyên nhân của tình trạng ấy.

Bài tham khảo số 7
Bài tham khảo số 7
Bài tham khảo số 7
Bài tham khảo số 7




Khách quan đầy đủ chính xác

Là top 3 tiêu chí mà Toplist.vn luôn luôn hướng tới để đem lại những thông tin hữu ích nhất cho cộng đồng

Công Ty cổ Phần Toplist
Địa chỉ: Tầng 3-4, Tòa nhà Việt Tower, số 01 Phố Thái Hà, Phường Trung Liệt, Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội
Điện thoại: O369132468 - Mã số thuế: 0108747679
Giấy phép mạng xã hội số 370/GP-BTTTT do Bộ Thông tin Truyền thông cấp ngày 09/09/2019
Chính sách bảo mật / Điều khoản sử dụng