Top 10 đoạn văn khoảng 150 chữ bày tỏ sự tâm đắc của bạn về một phương diện nổi bật của bài thơ Tràng giang

  1. Top 1 Bài mẫu 1
  2. Top 2 Bài mẫu 2
  3. Top 3 Bài mẫu 3
  4. Top 4 Bài mẫu 4
  5. Top 5 Bài mẫu 5
  6. Top 6 Bài mẫu 6
  7. Top 7 Bài mẫu 7
  8. Top 8 Bài mẫu 8
  9. Top 9 Bài mẫu 9
  10. Top 10 Bài mẫu 10

Top 10 đoạn văn khoảng 150 chữ bày tỏ sự tâm đắc của bạn về một phương diện nổi bật của bài thơ Tràng giang

Bài viết dưới đây Toplist đã tổng hợp các đoạn văn khoảng 150 chữ bày tỏ sự tâm đắc của bạn về một phương diện nổi bật của bài thơ Tràng giang, các bạn cùng ... xem thêm...

  1. Top 1

    Bài mẫu 1

    Trong Tràng giang, Huy Cận đã khéo léo kết hợp yếu tố cổ điển với cảm hứng hiện đại để khắc họa sâu sắc cái tôi cô đơn, buồn bã trước vũ trụ rộng lớn. Trước hết, chất cổ điển thể hiện qua đề tài sông nước vốn quen thuộc trong thi ca xưa và nhan đề “Tràng giang” mang âm hưởng Hán Việt trang trọng, cổ kính. Đặc biệt, tứ thơ cũng đậm màu sắc cổ điển: giữa không gian chiều tà mênh mang, con người hiện lên nhỏ bé, lẻ loi và chơi vơi trước dòng đời vô định. Hàng loạt hình ảnh quen thuộc như dòng sông, bến vắng, con thuyền, cánh chim chiều gợi nhớ thế giới thơ Đường. Bút pháp lấy động tả tĩnh, tương phản giữa cái vô hạn của vũ trụ và cái hữu hạn của kiếp người càng làm nổi bật nỗi cô đơn, đồng thời kín đáo bộc lộ tình yêu quê hương, đất nước của nhà thơ.

    Ảnh minh hoạ (Nguồn internet)
    Ảnh minh hoạ (Nguồn internet)

  2. Top 2

    Bài mẫu 2

    Ra đời năm 1939, Tràng giang mang đậm nỗi buồn và những suy tư sâu kín của Huy Cận trước cuộc đời. Trong hệ thống hình ảnh của bài thơ, con thuyền là một hình tượng giàu sức gợi, mang nhiều tầng ý nghĩa. Nếu trong ca dao, con thuyền thường gắn với hình ảnh người đàn ông thì trong thơ Huy Cận, đó lại là biểu tượng cho kiếp người lênh đênh, phiêu dạt giữa dòng đời. Câu thơ “Thuyền về nước lại sầu trăm ngả” đặc biệt gây ấn tượng bởi cách diễn đạt giàu sức liên tưởng. Thuyền trở về nhưng nước vẫn ở lại, tạo nên sự chia lìa đầy ám ảnh. Đồng thời, “sầu trăm ngả” còn gợi nỗi buồn lan tỏa, không chỉ hiện hữu ở một nơi mà trải rộng theo nhiều hướng. Phép đối giữa “thuyền” và “nước”, “về” và “lại” càng nhấn mạnh sự chia cách, qua đó khắc sâu cảm giác cô đơn, mất mát của con người trước dòng đời vô định.

  3. Top 3

    Bài mẫu 3

    Phân tích phong cảnh thiên nhiên trong Tràng giang

    Thiên nhiên trong Tràng giang hiện lên vừa hùng vĩ, mênh mang, vừa đìu hiu, quạnh vắng, mang đậm dấu ấn của thi pháp cổ điển. Ngay từ hai câu thơ đầu, “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp – Con thuyền xuôi mái nước song song”, Huy Cận đã mở ra trước mắt người đọc một không gian sông nước trải dài vô tận. Những con sóng “điệp điệp” không chỉ gợi sự nối tiếp bất tận mà còn như lan tỏa nỗi buồn khôn nguôi. Đến hai câu “Nắng xuống trời lên sâu chót vót – Sông dài trời rộng bến cô liêu”, không gian tiếp tục được mở rộng theo cả chiều cao, chiều sâu và chiều dài, tạo cảm giác thăm thẳm, vô cùng. Càng rộng lớn, cảnh vật càng trở nên vắng lặng, chỉ còn dòng sông dài và bến bờ cô độc. Qua bức tranh ấy, nhà thơ bộc lộ nỗi cô đơn, sầu buồn trước vũ trụ, đồng thời kín đáo gửi gắm khát vọng được giao hòa, gắn bó với cuộc đời, con người và quê hương, đất nước.

  4. Top 4

    Bài mẫu 4

    Hình ảnh đầu tiên của bài thơ là hình ảnh những con sóng khẽ gợn, nối tiếp nhau đến vô cùng, vô tận, tầng tầng lớp lớp không dứt. Câu thơ sử dụng bút pháp “lấy động tả tĩnh” của văn học trung đại. Chuyển động của con sóng chỉ là “gợn” rất khẽ, rất nhỏ dường như tan đi trong cái không gian mênh mông của sông của trời. Con sóng đi cùng với tràng giang đã không còn là con sóng thực mà dường như mang một lớp nghĩa ẩn dụ mới. Nó gợi đến nỗi buồn trong tâm hồn con người trước sự dài rộng của không gian. Cùng với hình ảnh sóng nước là hình ảnh con thuyền đang lênh đênh xuôi theo dòng. Hình ảnh này như gợi đến kiếp sống nổi lênh của một lớp người bé nhỏ trong xã hội. Đây cũng là một thi liệu quen thuộc gần như đã trở thành chuẩn mực trong văn học. Trong thơ Đường, ta đã từng bắt gặp hình ảnh con thuyền và dòng sông đầy ám ảnh, trĩu nặng cái tình của người đưa tiễn:

    Cô phàm viễn cảnh bích không tận

    Duy kiến Trường giang thiên tế lưu

    (Lí Bạch)

  5. Top 5

    Bài mẫu 5

    Tràng giang là một trong những thi phẩm tiêu biểu làm nên tên tuổi Huy Cận, nổi bật bởi sự hòa quyện tinh tế giữa vẻ đẹp cổ điển và cảm xúc hiện đại. Trước hết, nhà thơ đã dựng nên bức tranh sông nước vừa hùng vĩ, rộng lớn, vừa hoang sơ, vắng lặng, qua đó gửi gắm nỗi buồn man mác, triền miên của cái tôi trữ tình. Chất liệu Đường thi thấm đẫm từ nhan đề đến hệ thống hình ảnh quen thuộc như dòng sông, cánh chim, cồn cát, chợ chiều… Đặc biệt, các từ láy “điệp điệp”, “song song” tạo nhịp điệu chậm buồn, gợi cảm giác nỗi sầu cứ nối dài bất tận. Cách gieo vần chân cùng âm hưởng trầm lắng góp phần tạo nên sức ngân vang cho bài thơ. Khép lại tác phẩm bằng câu “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”, Huy Cận đã trực tiếp bộc lộ nỗi nhớ quê hương sâu sắc. Chính sự kết hợp hài hòa giữa chất cổ điển và cái tôi hiện đại đã tạo nên một Tràng giang đậm chất “ảo não”, giàu sức ám ảnh.

  6. Top 6

    Bài mẫu 6

    Ở khổ thứ nhất bài thơ "Tràng Giang", người đọc có thể cảm nhận được đặc sắc nghệ thuật độc đáo của Huy Cận. Tác giả sử dụng từ láy "điệp điệp" để gợi nỗi buồn thương da diết, miên man không dứt. Đặc biệt, sự đối lập giữa "củi một cành khô" với "lạc mấy dòng" đã nhấn mạnh sự chìm nổi, cô đơn của một cái tôi mất phương hướng. Quan trọng hơn, khổ thơ đầu còn nổi bật với cấu trúc đăng đối được tác giả sử dụng triệt để: "buồn điệp điệp" đối với "nước song song", "thuyền về" đối với "nước lại", "một cành khô" đối với "lạc mấy dòng". Tất cả những dụng ý nghệ thuật đó đã góp phần diễn tả nỗi buồn trầm lắng của tác giả trước thiên nhiên. Không gian càng rộng lớn thì Huy Cận càng thấy rợn ngợp. Trong hoàn cảnh đó, nhà thơ hướng tìm sự đồng cảm của con người. Thế nhưng hình ảnh con người cũng hiện lên rất thưa thớt. Vậy nên, đứng không gian bao la, thi nhân cảm thấy bị mất phương hướng và không biết rồi sẽ đi đâu về đâu.

  7. Top 7

    Bài mẫu 7

    Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

    Củi một cành khô lạc mấy dòng


    Con thuyền thì nhỏ bé, hữu hạn mà dòng sông thì rộng lớn vô hạn. Cái hữu hạn đối với cái vô hạn dường như càng tô đậm cảm giác nhỏ bé cô đơn. Hơn thế nữa thuyền và nước vốn là những sự vật gắn bó nước chảy thuyền trôi vậy mà ở đây lại bị chia tách với hai chuyển động ngược chiều về hai phía khác nhau. Cặp từ láy “điệp điệp”, “song song” ở hai câu thơ trước đã tô đậm ấn tượng về nỗi buồn mênh mang đang lan trên mặt nước, lại càng có tác dụng hơn khi tạo nên cấu trúc câu song ứng và rồi đến câu thơ thứ ba thì hai vế đối song ứng được dồn vào một câu thơ. “Thuyền về” đối với “nước lại” như nhấn vào cảm giác chia lìa đôi ngả. Và phải chăng vì sự chia lìa đó mà dòng sông tràng giang càng thêm u buồn lặng lẽ? Huy Cận lại chọn hình ảnh một cành củi khô đang trôi dạt giữa dòng nước mênh mang để thể hiện điều đó. Biện pháp đảo ngữ cùng cách ngắt nhịp 1/3/3 càng như nhấn mạnh hơn vào cành củi khô, nhỏ bé, khô héo, cạn kiệt sức sống. Ý thơ này có lẽ vừa được khơi nguồn từ hình ảnh thực khi nhà thơ đứng ở bờ nam bến Chèm giữa mùa nước lớn, những cành cây khô trôi từ thượng nguồn về bến sông. Nhưng có lẽ nó còn mang một lớp nghĩa ẩn dụ khác. Nó gợi về một lớp người lúc bấy giờ trong xã hội. Ý thơ này càng được làm rõ hơn với từ “lạc” dường như là sự trôi nổi vô định, mất phương hướng. Một cành củi khô héo không sức sống mà vẫn bị giằng xé, chao đảo giữa dòng nước mênh mang của cuộc đời. Nó gợi đến hình ảnh một lớp người như nhà thơ trong xã hội xưa, những trí thức tiểu tư sản có ý thức về cái tôi nhưng lại bế tắc, mất phương hướng trước hiện thực xã hội bấy giờ.

  8. Top 8

    Bài mẫu 8

    Hình ảnh bèo dạt rất quen thuộc và xuất hiện nhiều lần trong thơ ca truyền thống. Nhưng ở đây cánh bèo dạt vẫn gợi lên những cảm nhận mới. Hình ảnh này diễn tả một cách thấm thía sự hợp tan, chia lìa của những kiếp người chứ không chỉ gợi sự nhỏ bé mong manh, trôi dạt như trong thơ ca truyền thống. Bèo dạt hàng nối hàng như bao kiếp người lênh đênh trên dòng nhân thế. Cảm nhận về sự lênh đênh, trôi dạt vô định của một kiếp người càng khiến nỗi sầu tăng lên gấp bội trong lòng thi nhân. Ở khổ thơ này Huy Cận còn nhắc đến những chuyến đò và những cây cầu. Đây là những hình ảnh gợi sự kết nối, giao lưu. Vậy mà tác giả nhắc tới những sự vật đó, không phải là để khẳng định cái có mà là để miêu tả cái không có, không tồn tại trong bức tranh sông nước tràng giang. Không cầu, không đò hay chính là không có sự kết nối của con người, hay chính là sự cô đơn, hoang vắng đến tột cùng? Trong sự vắng lặng đó không gian vẫn tiếp tục được trải ra đến vô cùng của bờ xanh với bãi vàng. Bức tranh xuất hiện những gam màu vốn không đen tối nhưng lại chẳng thể làm cảnh sắc thêm tươi sáng, thêm sức sống. Dường như hai bờ sông là một thế giới tách biệt với những bờ bãi kia, những cánh bèo cũng vì thế mà chẳng biết trôi dạt về đâu. Trước một cảnh sắc như thế lòng người sao có thể vui tươi, háo hức. Hay cũng vì lòng người nhiều tâm tư trĩu nặng mà cái nhìn với cảnh cũng tấm đẫm ưu tư?

  9. Top 9

    Bài mẫu 9

    Hai câu thơ cuối Tràng giang đã để lại dư âm sâu sắc bởi qua nỗi nhớ nhà, người đọc cảm nhận được tình yêu quê hương, đất nước thiết tha, thầm kín của Huy Cận. Nếu Thôi Hiệu trong Hoàng Hạc lâu cần đến “khói sóng” mới khơi dậy nỗi nhớ quê, thì Huy Cận lại viết: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Điểm đặc biệt nằm ở chữ “không”: không cần một tác nhân ngoại cảnh, nỗi nhớ vẫn tự nhiên dâng lên bởi quê hương đã thường trực trong trái tim thi nhân. Huy Cận kế thừa cảm hứng hoài hương của thơ ca cổ điển nhưng đã đem đến một cách biểu đạt mới mẻ, phù hợp với tâm thế của cái tôi cá nhân trong phong trào Thơ mới. Qua đó, nỗi nhớ nhà không chỉ là tình cảm riêng tư mà còn trở thành biểu hiện kín đáo của tình yêu quê hương, đất nước sâu nặng.

  10. Top 10

    Bài mẫu 10

    Hình ảnh “bèo” trong Tràng giang gợi lên sâu sắc cảm giác vô định, lênh đênh và bơ vơ của kiếp người. Những cánh bèo “hàng nối hàng” cứ trôi dạt theo dòng nước, không nơi neo đậu, chẳng biết đâu là bến đỗ, qua đó trở thành hình ảnh ẩn dụ cho những con người nhỏ bé, cô đơn và mất phương hướng giữa cuộc đời. Đáng buồn hơn, trước không gian sông nước mênh mông, “không cầu” cũng chẳng có “chuyến đò ngang” – những biểu tượng vốn gợi sự gặp gỡ, kết nối giữa con người với con người. Thiên nhiên vì thế như khép lại mọi con đường giao cảm. Càng khao khát được gắn bó, sẻ chia, cái tôi trữ tình càng cảm nhận rõ sự trống vắng của tình đời, tình người. Đằng sau bức tranh thiên nhiên lạnh vắng ấy là một tâm hồn nhạy cảm đang khát khao tìm kiếm sự đồng điệu và hơi ấm của cuộc sống.





Công Ty cổ Phần Toplist
Địa chỉ: Tầng 3-4, Tòa nhà Việt Tower, số 01 Phố Thái Hà, Phường Trung Liệt, Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội
Điện thoại: 0369132468 - Mã số thuế: 0108747679
Giấy phép mạng xã hội số 370/GP-BTTTT do Bộ Thông tin Truyền thông cấp ngày 09/09/2019
Chịu trách nhiệm quản lý nội dung: Nguyễn Duy Ngân
Chính sách bảo mật / Điều khoản sử dụng | Privacy Policy